‘- Chị đi dạy mà không thấy chán hả?
+ Vì sao em hỏi vậy?
– Thì đi dạy chỉ toàn gặp sinh viên, những người kém hơn mình.’

Đó là câu chuyện đêm khuya mấy năm trước của tôi với người bạn nữ cùng phòng (trong vài ngày). Khi người ta đã định kiến về điều gì thì tốt nhất là im lặng. Thời gian, hành động và sự thể hiện của mình sẽ là câu trả lời tốt nhất. Chuỗi bài viết ‘Những điều tôi học được từ người học’ cũng vì thế mà dần được ấp ủ.

1/ Sinh viên cần dạy kiến thức hay dạy cách tư duy?

Người dạy đến lớp, đọc/ giảng/ chiếu bài, sinh viên nghe/ chép/ xem nội dung giảng dạy là mô tuýp đã rất cũ về dạy học. Dù là tiến sĩ gây mê hay là ngôi sao sân khấu, dù là diễn vai đa tài hay máy nói nhạt nhòa (*) thì bản chất của việc người thầy trở thành nhân vật chính trên lớp học là truyền đạt kiến thức dưới dạng thông tin. Đó không phải là để phát triển tư duy. 

Tư duy của người học được phát triển tốt nhất trong quá trình họ làm việc. Việc lập kế hoạch, triển khai phương án, giải quyết vấn đề và giới thiệu sản phẩm trên thực tế mới giải phóng suy nghĩ khỏi những câu chữ nhỏ hẹp để được bay lượn ngoài cuộc sống và hóa thành kiến thức sinh động được lưu lại trong nhận thức, cảm xúc và hành vi của họ.

Quản trị nguồn nhân lực và hành vi tổ chức là hai môn học mà tôi đảm nhận kỳ này. Điều may mắn là các đồng nghiệp đã xây dựng một hệ thống đánh giá, kiểm tra liên tục đủ hiệu quả để thúc đẩy sinh viên đọc sách thường xuyên. Từ đó, tôi có thể tự tin hơn khi đề ra giao ước: Mỗi nhóm đều phải có sản phẩm sau mỗi buổi lên lớp. Nhận được yêu cầu liên quan đến nội dung học vào đầu giờ, sinh viên có 2 tiết học để thực hiện và sau đó hoàn thành báo cáo và nộp trên elearning. Giảng viên không nói lại những nội dung đã được viết trong giáo trình. Ngược lại, sẽ quan tâm nhiều hơn đến cách tiếp cận, hướng đi, tính hiệu quả, cũng như những điểm mạnh, điểm yếu và lĩnh vực cần cải thiện của nhóm.

Chẳng hạn với môn hành vi tổ chức (nói nôm na là hành vi của con người và văn hóa trong tổ chức), để những sinh viên mới vào đại học và chưa trải đời có thể thẩm thấu được, tôi yêu cầu họ đọc sách, tìm hiểu và khám phá về những khía cạnh hành vi của bản thân, của bạn học, của sinh viên nói chung và rộng hơn là của rất nhiều con người với độ tuổi, học thức, vị trí và công việc khác nhau bên ngoài trường học.

Vị trí của đơn vị mà tôi công tác cũng là một sự thuận lợi. Gần chợ, đông dân cư, trong khu du lịch, và liền kề các cơ quan công quyền hoặc thương mại khác. Những điều này tạo nên một tổng thể mở và tương đối đa dạng. Cảnh đời của người bán hàng trên vỉa hè phố chợ, câu chuyện của cậu sinh viên mới ra trường chưa có việc làm tạm thời đi lái Grab, lời kể của bác bảo vệ, nhận xét của du khách thập phương…sẽ vẽ nên bức tranh đa sắc thái được cất giữ ở những tần sâu nhất trong tâm trí người học.

Sự thú vị ở hai lớp quản trị nguồn nhân lực cho sinh viên năm 2 và năm 3 mà tôi dạy chính là các bạn tạo ra 2 phân khúc thị trường lao động khác biệt. Một bên làm về thị trường công việc làm thêm bán thời gian của sinh viên trong khi một bên hướng đến thị trường công việc toàn thời gian của các công ty/ tập đoàn lớn. Sự đối lập này phản ánh sự phát triển về định hướng, mục tiêu của sinh viên theo thời gian. Ngoài ra cũng làm rõ nét khoảng trống về các vấn đề con người và qui trình quản lý nhân sự ở những công ty lớn (là hình mẫu trong sách giáo trình) với thế giới của các doanh nghiệp/ cá thể kinh doanh nhỏ lẻ (đang chiếm tỉ lệ đa số ở Việt Nam). 

Giáo dục không thể mãi rập khuôn theo công thức 1 + 1 =2. Quan trọng hơn, cần giúp người học vượt qua sự mơ hồ, dỡ bỏ các rào cản, ranh giới và phát triển tư duy không giới hạn. Tuy nhiên, phương châm này dễ đem đến những hoài nghi, thách thức. Điều mà tôi học được từ những sinh viên của mình là làm sao giải quyết những sự hoài nghi đó để tiến nhanh và hiệu quả hơn đến cái đích nghề nghiệp của mình!

(*) Những điều này đã được đề cập rõ hơn trong sách Người bước ra thế giới.

viTiếng Việt
en_USEnglish viTiếng Việt